Công ước La Hay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế là điều ước đa phương đặt ra luật chơi chung cho việc một đứa trẻ được nhận nuôi và chuyển từ nước này sang nước khác. Việt Nam ký Công ước năm 2010, phê chuẩn năm 2011 và Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 01/02/2012. Từ đó, việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở các nước thành viên phải đi theo cơ chế của Công ước, bên cạnh Luật Nuôi con nuôi 2010.
Công ước không phải là "giấy thông hành" giúp nhận con nhanh hơn. Ngược lại, nó dựng thêm hàng rào để chặn mua bán trẻ, ép buộc cha mẹ đẻ và trục lợi. Hiểu nó giúp người nhận biết vì sao hồ sơ dài, và giúp gia đình có trẻ được giới thiệu biết quyền của mình.
Công ước ra đời để giải quyết chuyện gì
Trong nửa sau thế kỷ 20, nuôi con nuôi xuyên quốc gia tăng mạnh sau chiến tranh, thiên tai và khủng hoảng kinh tế ở nhiều nơi. Cùng với những gia đình thật lòng, đã xuất hiện các đường dây thu gom trẻ, trả tiền để cha mẹ nghèo ký giấy, làm giả hồ sơ trẻ bị bỏ rơi. Các nước gửi trẻ và nước nhận trẻ đều thiếu một khung chung để kiểm soát. Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế soạn Công ước 1993 để lấp khoảng trống đó.
Công ước bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, vốn đã nói rằng nuôi con nuôi ở nước ngoài chỉ nên là giải pháp khi trẻ không thể được chăm sóc phù hợp ở nước mình. Công ước La Hay biến nguyên tắc đó thành thủ tục cụ thể: ai kiểm tra, kiểm tra cái gì, hai nước trao đổi với nhau thế nào, và khi nào việc nuôi con nuôi được công nhận ở mọi nước thành viên.
Đến nay đã có hơn một trăm nước tham gia, gồm phần lớn các nước thường nhận con nuôi và nhiều nước gốc của trẻ. Khi một nước tham gia, nước đó phải sửa luật trong nước cho khớp: lập cơ quan trung ương, quy định ai được cấp phép làm trung gian, cách lấy ý kiến cha mẹ đẻ. Luật Nuôi con nuôi 2010 của Việt Nam được soạn trong giai đoạn chuẩn bị gia nhập nên nhiều quy định đi theo đúng tinh thần đó.
Nó chỉ áp dụng khi trẻ thường trú ở một nước thành viên và đã, đang hoặc sẽ được chuyển sang một nước thành viên khác để làm con nuôi. Nuôi con nuôi giữa những người cùng thường trú trong một nước không thuộc phạm vi Công ước, kể cả khi người nhận mang quốc tịch nước ngoài.
Bốn nguyên tắc cốt lõi
Lợi ích tốt nhất của trẻ em. Mọi quyết định đều phải trả lời được câu hỏi: việc này có tốt nhất cho đứa trẻ không, chứ không phải cho người muốn có con hay cho cơ sở nuôi dưỡng. Đây cũng là nguyên tắc đầu tiên của Luật Nuôi con nuôi 2010.
Nguyên tắc bổ trợ. Nước gốc của trẻ phải cân nhắc khả năng tìm gia đình cho trẻ trong nước trước. Chỉ khi điều đó không thực hiện được, nuôi con nuôi quốc tế mới được xem là phương án vì lợi ích của trẻ. Luật Việt Nam thể hiện điều này bằng thứ tự ưu tiên gia đình thay thế và việc thông báo tìm người nhận trong nước trước khi giới thiệu trẻ ra nước ngoài.
Đồng ý tự nguyện, không vì tiền. Theo Điều 4 của Công ước, những người, cơ quan có quyền đồng ý phải được tư vấn về hệ quả, đồng ý tự do, bằng văn bản, không bị mua bằng tiền hay lợi ích, và người mẹ chỉ được đồng ý sau khi đã sinh con. Ý kiến của trẻ được xem xét theo độ tuổi và mức trưởng thành.
Không ai được thu lợi bất chính. Công ước cấm thu lợi tài chính hoặc lợi ích khác không chính đáng từ hoạt động nuôi con nuôi quốc tế. Chỉ được thu chi phí và thù lao hợp lý cho người làm nghề tham gia; mức thù lao của người điều hành tổ chức không được cao bất hợp lý so với công việc.
Ai làm gì trong cơ chế La Hay
Công ước chia việc giữa nước gốc của trẻ và nước nhận. Bảng dưới tóm tắt cách phân công, kèm vị trí tương ứng ở Việt Nam khi Việt Nam là nước gốc.
| Khâu | Nước gốc (Việt Nam) | Nước nhận | Mục đích |
|---|---|---|---|
| Xác định trẻ cần gia đình | Kiểm tra trẻ đủ điều kiện làm con nuôi, đã tìm gia đình trong nước mà không có | Không tham gia | Bảo đảm nguyên tắc bổ trợ |
| Đánh giá người nhận | Kiểm tra lại hồ sơ khi nhận được | Xác định người nhận đủ điều kiện, phù hợp, đã được tư vấn | Không giao trẻ cho người chưa được đánh giá |
| Thu thập sự đồng ý | Lấy ý kiến cha mẹ đẻ, người giám hộ, trẻ từ đủ 9 tuổi | Không tham gia | Đồng ý tự nguyện, có hiểu biết |
| Thống nhất tiến hành | Cơ quan trung ương đồng ý | Cơ quan trung ương đồng ý, xác nhận trẻ được nhập cảnh, cư trú | Tránh trẻ bị kẹt giữa hai nước |
| Công nhận | Cấp chứng nhận việc nuôi con nuôi phù hợp Công ước | Công nhận theo luật | Quan hệ cha mẹ con có giá trị ở các nước thành viên |
Mỗi nước thành viên phải chỉ định một cơ quan trung ương làm đầu mối. Ở Việt Nam đó là đơn vị chuyên trách về con nuôi thuộc Bộ Tư pháp, nhiều năm mang tên Cục Con nuôi; sau đợt sắp xếp bộ máy năm 2025, bạn nên kiểm tên gọi và đầu mối hiện hành trên cổng thông tin của Bộ Tư pháp.
Tổ chức con nuôi được công nhận và quy tắc "không tiếp xúc trước"
Công ước cho phép các nước giao một phần việc cho tổ chức được công nhận, tức các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận, có nhân sự đủ năng lực đạo đức và chuyên môn, chịu sự giám sát của nhà nước. Ở Việt Nam, tổ chức con nuôi nước ngoài muốn hoạt động phải được Bộ Tư pháp cấp phép, phải có cả sự cho phép của nước mình. Người nhận ở nước thành viên thường đi qua những tổ chức này hoặc qua cơ quan trung ương của nước mình.
Một quy tắc ít người biết nhưng rất quan trọng: người muốn nhận con nuôi và cha mẹ đẻ hoặc người đang chăm sóc trẻ không được tiếp xúc với nhau cho đến khi các điều kiện cơ bản về trẻ và về người nhận đã được xác định, trừ trường hợp nhận con nuôi trong gia đình hoặc có tuân thủ điều kiện của cơ quan có thẩm quyền. Quy tắc này có ở Điều 29 của Công ước, nhằm chặn việc người nhận tự đi tìm, thoả thuận hoặc gây sức ép với một gia đình nghèo.
Vì vậy, nếu bạn là người nhận và có ai đó đề nghị "dẫn đi gặp gia đình có bé muốn cho" trước khi hồ sơ được giới thiệu chính thức, đó là dấu hiệu sai quy trình. Còn nếu bạn là cha mẹ đẻ đang khó khăn, không ai có quyền đến nhà bạn để bàn chuyện nhận con của bạn ra nước ngoài kèm theo tiền.
Giấy chứng nhận phù hợp Công ước và giá trị của nó
Khi việc nuôi con nuôi giữa hai nước thành viên đã hoàn tất theo đúng Công ước, nước nơi việc nuôi con nuôi được tiến hành cấp chứng nhận việc nuôi con nuôi phù hợp Công ước. Theo Điều 23, việc nuôi con nuôi được chứng nhận như vậy được các nước thành viên khác công nhận theo luật. Thực tế điều này có nghĩa:
- Gia đình không phải làm lại thủ tục nhận con nuôi từ đầu ở nước nhận chỉ để quan hệ cha mẹ con có giá trị.
- Trẻ có cơ sở pháp lý để được cấp giấy tờ cư trú, quốc tịch theo luật của nước nhận.
- Một nước thành viên chỉ được từ chối công nhận khi việc nuôi con nuôi rõ ràng trái với trật tự công cộng của mình, có tính đến lợi ích của trẻ.
- Chứng nhận chỉ có ý nghĩa khi mọi bước trước đó đúng Công ước; giấy tờ làm tắt, đồng ý mua bằng tiền có thể khiến cả việc nuôi con nuôi bị xem lại.
- Với nước chưa là thành viên, không có cơ chế công nhận tự động này; gia đình phải hỏi kỹ luật nước nhận về việc công nhận quyết định của Việt Nam.
Công ước cũng yêu cầu các nước lưu giữ thông tin về nguồn gốc của trẻ, nhất là danh tính cha mẹ đẻ và tiền sử bệnh tật, và cho trẻ hoặc người đại diện tiếp cận trong phạm vi luật nước đó cho phép. Đây là nền tảng cho việc tìm cội nguồn sau này.
Giới hạn của Công ước và việc của bạn
Công ước là khung, không phải bộ thủ tục đầy đủ. Hồ sơ cụ thể, lệ phí, thời hạn, cơ quan ký quyết định vẫn do luật mỗi nước quy định. Ở Việt Nam đó là Luật Nuôi con nuôi 2010, các nghị định hướng dẫn và quy định phân cấp của từng tỉnh sau năm 2025. Công ước cũng không bắt mọi nước phải mở cửa cho nuôi con nuôi quốc tế; một nước có thể tạm dừng hợp tác với nước khác khi thấy có rủi ro.
Công ước không xoá được mọi sai phạm. Những năm qua, nhiều nước thành viên đã phải điều tra lại các vụ nuôi con nuôi trong quá khứ vì nghi vấn về nguồn gốc trẻ. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt kế hoạch triển khai bộ công cụ ngăn ngừa và xử lý hành vi không tuân thủ pháp luật trong nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026–2030. Bài học cho người nhận là đừng coi Công ước như tấm khiên tự động; hãy tự hỏi từng bước của hồ sơ mình có minh bạch không.
Nếu bạn ở một nước thành viên và muốn nhận trẻ Việt Nam, bước đầu tiên là liên hệ cơ quan trung ương về con nuôi của nước mình để biết họ có đang hợp tác với Việt Nam, qua tổ chức nào. Với tình huống đặc biệt như nhận cháu, nhận trẻ khuyết tật, có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để xác định hồ sơ đích danh cần thêm gì.
Câu hỏi thường gặp
Nước của người nhận chưa tham gia Công ước La Hay thì có nhận được trẻ Việt Nam không?
Luật Nuôi con nuôi 2010 vẫn có lối cho người thường trú ở nước không cùng là thành viên điều ước với Việt Nam, nhưng chủ yếu qua đường đích danh trong các trường hợp luật liệt kê như nhận cháu ruột hay trẻ khuyết tật. Việc nước đó có công nhận quyết định của Việt Nam hay không thì phải hỏi luật nước đó.
Công ước La Hay 1993 có liên quan gì đến Công ước Apostille không?
Không. Đó là hai điều ước khác nhau cùng do Hội nghị La Hay soạn. Công ước 1993 nói về nuôi con nuôi quốc tế; Công ước 1961 về miễn hợp pháp hoá giấy tờ. Có ở trong cơ chế nuôi con nuôi không có nghĩa là giấy tờ được miễn hợp pháp hoá; việc đó xét riêng.
Cha mẹ đẻ đã đồng ý rồi có được đổi ý không?
Luật Việt Nam cho phép cha mẹ đẻ thay đổi ý kiến trong một thời hạn kể từ ngày được lấy ý kiến, theo quy định hiện hành. Hết thời hạn đó, sự đồng ý có giá trị để tiếp tục thủ tục. Cha mẹ đẻ cần được giải thích rõ thời hạn này khi được hỏi ý kiến.
Công ước có bắt Việt Nam phải cho trẻ đi làm con nuôi nước ngoài không?
Không. Công ước chỉ đặt điều kiện khi việc nuôi con nuôi quốc tế được tiến hành. Mỗi nước tự quyết định mức độ mở cửa, và nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi ưu tiên tìm gia đình trong nước. Việt Nam có quyền tạm dừng hợp tác với tổ chức hoặc nước nào không bảo đảm yêu cầu.
Trẻ được nhận nuôi theo Công ước sau này có quyền biết cha mẹ đẻ là ai không?
Công ước yêu cầu lưu giữ thông tin nguồn gốc và cho phép tiếp cận theo luật nước nơi lưu giữ. Việt Nam lưu hồ sơ con nuôi và có thủ tục để con nuôi đã thành niên tìm hiểu nguồn gốc. Mức tiếp cận cụ thể và sự đồng ý của cha mẹ đẻ là phần cần hỏi cơ quan lưu hồ sơ.