Nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam là một dạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhưng được làm theo thủ tục riêng, đơn giản hơn, tại Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới. Thủ tục này do nghị định hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định, nhằm đáp ứng thực tế các gia đình hai bên biên giới có quan hệ họ hàng, hôn nhân, qua lại lâu đời.
Bài này giải thích ai được dùng thủ tục biên giới, giấy tờ chung cần có, việc sau khi đăng ký, và những ranh giới không được vượt qua. Sau khi sắp xếp xã, phường từ 1/7/2025, ranh giới hành chính ở nhiều vùng biên đã thay đổi, nên việc một địa bàn có còn thuộc khu vực biên giới hay không, và xã nào tiếp nhận, phải hỏi lại chính quyền địa phương.
Ai được dùng thủ tục nuôi con nuôi ở khu vực biên giới
Hai bên đều phải là cư dân biên giới: người Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn thuộc khu vực biên giới theo quy định của pháp luật về biên giới, và công dân nước láng giềng thường trú ở đơn vị hành chính tương đương tiếp giáp Việt Nam. Nếu một bên sống sâu trong nội địa, việc nuôi con nuôi đi theo thủ tục có yếu tố nước ngoài thông thường, không dùng thủ tục biên giới.
Thủ tục áp dụng theo cả hai chiều: công dân Việt Nam vùng biên nhận trẻ em nước láng giềng làm con nuôi, và công dân nước láng giềng vùng biên nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Điều kiện của người nhận và của trẻ vẫn theo Luật Nuôi con nuôi 2010: người nhận có năng lực hành vi đầy đủ, hơn trẻ từ 20 tuổi trở lên trừ ngoại lệ người thân ruột, đủ điều kiện chăm sóc; trẻ dưới 16 tuổi hoặc đến dưới 18 tuổi trong trường hợp người thân ruột nhận; trẻ từ đủ 9 tuổi phải đồng ý.
Vì sao lại có thủ tục riêng? Ở nhiều vùng biên, đồng bào cùng dân tộc sống hai bên, có quan hệ họ hàng, hôn nhân qua nhiều thế hệ. Khi một gia đình bên này gặp nạn, người thân bên kia nhận nuôi đứa trẻ là chuyện tự nhiên của đời sống. Buộc các gia đình này đi qua quy trình con nuôi quốc tế đầy đủ, với cơ quan trung ương và tổ chức trung gian, là không thực tế; thủ tục tại cấp xã giúp họ có giấy tờ hợp pháp cho trẻ mà vẫn có kiểm soát.
Người nước láng giềng còn phải đủ điều kiện nhận con nuôi theo pháp luật nước mình. Điều này thường được chứng minh bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền ở địa phương bên kia biên giới cấp hoặc xác nhận.
Giấy tờ thường cần chuẩn bị
Danh mục cụ thể do quy định hiện hành và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận hướng dẫn. Những nhóm giấy tờ chung gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi.
- Giấy tờ tuỳ thân của người nhận: với người nước láng giềng thường là giấy tờ dùng cho việc qua lại biên giới do cơ quan có thẩm quyền nước đó cấp, hoặc hộ chiếu.
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước láng giềng xác nhận người đó thường trú ở khu vực biên giới và đủ điều kiện nhận con nuôi theo pháp luật nước mình, kèm bản dịch tiếng Việt theo quy định.
- Hồ sơ của trẻ: giấy khai sinh, giấy khám sức khoẻ, ảnh, văn bản đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ; với trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng thì thêm văn bản của cơ sở.
- Giấy tờ chứng minh quan hệ họ hàng nếu là người thân nhận cháu, hoặc quan hệ hôn nhân nếu là cha dượng, mẹ kế.
- Với trẻ em nước láng giềng được người Việt Nam nhận: giấy tờ của trẻ do cơ quan nước láng giềng cấp và văn bản đồng ý của những người có quyền theo pháp luật nước đó.
Vấn đề hợp pháp hoá lãnh sự đối với giấy tờ của cư dân biên giới có thể được xử lý khác nhau tuỳ hiệp định giữa Việt Nam với từng nước và quy định hiện hành; đừng tự cho rằng giấy tờ của xã bên kia đương nhiên dùng được. Hỏi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nộp trước khi xin giấy.
Các bước đăng ký tại cấp xã
Mạch chung theo hướng dẫn hiện hành; thời hạn giải quyết và người ký kiểm lại tại nơi nộp:
- Người nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thuộc khu vực biên giới có thẩm quyền theo quy định, thường là nơi thường trú của trẻ khi trẻ là trẻ em Việt Nam.
- Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ, của trẻ từ đủ 9 tuổi; giải thích hệ quả của việc cho làm con nuôi.
- Xác minh người nhận và hoàn cảnh của trẻ; có thể phối hợp với lực lượng quản lý biên giới, công an và cơ quan nước láng giềng khi cần.
- Nếu đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi, cấp giấy chứng nhận và tổ chức giao nhận con nuôi.
- Báo cáo, thông tin cho cơ quan cấp trên theo quy định; ghi vào sổ đăng ký nuôi con nuôi.
- Sau đăng ký, gia đình làm các thủ tục hộ tịch, cư trú tương ứng cho trẻ.
Trường hợp người nhận không đủ điều kiện, trẻ không đủ điều kiện, hoặc có dấu hiệu trao đổi tiền bạc, cấp xã từ chối đăng ký và nêu lý do bằng văn bản. Khi đó, gia đình có thể hỏi Sở Tư pháp về hướng khác, như giám hộ hoặc thủ tục có yếu tố nước ngoài thông thường.
Sau khi đăng ký: cư trú, giấy tờ và đời sống của trẻ
Trẻ sống ở đâu. Trẻ chuyển sang sống với cha mẹ nuôi, có thể ở bên này hoặc bên kia biên giới. Khi trẻ là công dân Việt Nam sang sống ở nước láng giềng, gia đình cần làm giấy tờ xuất nhập cảnh hoặc giấy tờ qua lại biên giới phù hợp cho trẻ.
Quốc tịch của trẻ. Việc nuôi con nuôi không tự động làm trẻ đổi quốc tịch. Các câu hỏi giữ, mất hay có thêm quốc tịch có trang chuyên đề về quốc tịch; ở đây chỉ nhắc rằng nên hỏi sớm để trẻ không rơi vào tình trạng thiếu giấy tờ.
Học hành và y tế. Trẻ ở với gia đình bên kia biên giới cần được đăng ký đi học, khám chữa bệnh theo luật nước đó. Cha mẹ nuôi nên giữ bản sao giấy chứng nhận nuôi con nuôi để chứng minh quyền đại diện khi làm thủ tục cho con.
Ngôn ngữ và phiên dịch. Khi lấy ý kiến cha mẹ đẻ hoặc trẻ, nếu họ không thông thạo tiếng Việt, cần có người phiên dịch phù hợp để họ hiểu đúng hệ quả của việc mình đồng ý. Một sự đồng ý không được hiểu rõ là điểm yếu của hồ sơ và có thể gây tranh chấp về sau.
Liên hệ với cha mẹ đẻ. Ở vùng biên, cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thường biết nhau, có khi là họ hàng. Luật cho phép hai bên thoả thuận về việc cha mẹ đẻ được thăm nom, giữ liên lạc. Thoả thuận rõ từ đầu giúp tránh hiểu lầm khi trẻ lớn.
Ranh giới phải giữ: không biến con nuôi thành mua bán người
Vùng biên giới là nơi các đường dây mua bán người, trong đó có mua bán trẻ sơ sinh, từng lợi dụng sự qua lại dễ dàng. Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em là tội phạm nghiêm trọng theo Bộ luật Hình sự, bất kể được gọi bằng tên gì: "cho con", "gửi nuôi", "xin con". Thủ tục nuôi con nuôi biên giới được đặt ra để gia đình làm đúng, không phải để hợp thức hoá việc giao nhận trẻ đã diễn ra kèm tiền.
Vài dấu hiệu nhận biết: người lạ hỏi thăm phụ nữ mang thai sắp sinh, hứa trả tiền viện phí rồi "nhận con"; trẻ được đưa qua biên giới trước, giấy tờ tính sau; người trung gian giữ giấy tờ của mẹ hoặc của trẻ. Nếu gặp những việc này, hãy báo ngay công an, đồn biên phòng hoặc chính quyền xã.
Ngược lại, nếu gia đình bạn thật sự đang nuôi một đứa trẻ bên kia biên giới từ lâu mà chưa có giấy tờ, ví dụ cháu ruột mồ côi, đừng giấu. Hãy đến Ủy ban nhân dân cấp xã trình bày để được hướng dẫn làm đúng thủ tục, vì không có giấy tờ thì đứa trẻ là người chịu thiệt nhất: không đi học được đúng tuổi, không được bảo vệ khi có chuyện.
Khi nào nên hỏi thêm
Thủ tục biên giới đơn giản hơn trên giấy, nhưng hồ sơ thực tế có thể phức tạp: cha mẹ đẻ của trẻ là hai quốc tịch, trẻ chưa được khai sinh ở bên nào, người nhận không rõ đang thường trú bên nào, hoặc địa bàn vừa sáp nhập không biết còn thuộc khu vực biên giới không. Trong những trường hợp này, hỏi Sở Tư pháp tỉnh hoặc phòng chuyên môn của xã trước khi nộp sẽ tiết kiệm nhiều thời gian.
Nếu trẻ cần được khai sinh trước khi làm con nuôi, đó là thủ tục hộ tịch riêng; nếu trẻ cần xác định quốc tịch, đó là thủ tục quốc tịch riêng. Làm từng bước theo thứ tự giúp hồ sơ con nuôi không bị trả lại.
Với những trường hợp có tranh chấp giữa hai bên gia đình, hoặc nghi ngờ trẻ đã từng bị giao nhận trái phép, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để biết quyền và nghĩa vụ của mình trước khi làm việc với cơ quan nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
Người ở tỉnh không giáp biên có được dùng thủ tục nuôi con nuôi biên giới không?
Không. Thủ tục này chỉ dành cho cư dân thường trú tại khu vực biên giới theo quy định ở cả hai bên. Người ở nơi khác nhận trẻ em nước láng giềng hoặc người nước láng giềng ở sâu trong nội địa nhận trẻ Việt Nam phải đi theo thủ tục có yếu tố nước ngoài thông thường.
Xã của gia đình vừa sáp nhập năm 2025 thì có còn thuộc khu vực biên giới không?
Phạm vi khu vực biên giới được xác định theo quy định của pháp luật về biên giới quốc gia và có thể được điều chỉnh theo địa giới mới. Hãy hỏi Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đồn biên phòng nơi bạn sống để biết địa bàn của mình hiện được xác định thế nào.
Đã nuôi cháu bên kia biên giới nhiều năm, chưa đăng ký thì có hợp thức hoá được không?
Tuỳ thời điểm bắt đầu nuôi và hoàn cảnh cụ thể, gia đình có thể làm thủ tục nuôi con nuôi biên giới bây giờ nếu đủ điều kiện. Chế độ đăng ký con nuôi thực tế chỉ áp dụng cho trường hợp phát sinh trước khi Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực. Hãy đến cấp xã trình bày để được hướng dẫn.
Lệ phí đăng ký nuôi con nuôi ở khu vực biên giới là bao nhiêu?
Lệ phí do văn bản về phí, lệ phí quy định và có thể thay đổi. Một số trường hợp được miễn, giảm theo quy định. Hãy hỏi trực tiếp nơi nộp hồ sơ hoặc xem biểu phí đăng trên Cổng dịch vụ công, không trả bất kỳ khoản nào cho người trung gian.
Trẻ em Việt Nam được cư dân nước láng giềng nhận nuôi có còn quốc tịch Việt Nam không?
Theo nguyên tắc chung, việc làm con nuôi không tự làm trẻ mất quốc tịch Việt Nam. Việc trẻ có thêm quốc tịch nước láng giềng phụ thuộc luật nước đó. Chi tiết về quốc tịch của con nuôi có hướng dẫn riêng ở trang chuyên về quốc tịch.