Nhận con nuôi trong nước là một thủ tục đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm năm chặng: chuẩn bị và nộp hồ sơ của người nhận cùng hồ sơ của trẻ; xã kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến những người phải đồng ý; chờ hết thời hạn được thay đổi ý kiến; xã đăng ký, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi và tổ chức giao nhận; sau đó là thời gian cha mẹ nuôi định kỳ thông báo tình hình của con. Không có toà án, không có bước xin phép ở tỉnh khi cả hai bên đều là công dân Việt Nam đang sống trong nước.
Căn cứ chính là Luật Nuôi con nuôi 2010 (có hiệu lực từ 1/1/2011) và Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn luật này, đã được sửa đổi nhiều lần (Nghị định 24/2019/NĐ-CP, Nghị định 06/2025/NĐ-CP và gần nhất là đợt cắt giảm thủ tục đầu năm 2026). Một dự án sửa đổi Luật Nuôi con nuôi cũng đang được chuẩn bị, nên các mốc thời hạn trong bài là theo văn bản đang áp dụng vào cuối năm 2026; trước khi nộp, bạn nên xem bản công bố thủ tục mới nhất trên Cổng dịch vụ công hoặc hỏi công chức tư pháp – hộ tịch của xã.
Nhận con nuôi trong nước thực chất là việc gì
Về mặt pháp lý, nhận con nuôi là xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên vốn không phải cha mẹ đẻ và con đẻ. Quan hệ ấy chỉ phát sinh khi được cơ quan nhà nước đăng ký: một gia đình nuôi nấng đứa trẻ mười năm mà chưa đăng ký thì về giấy tờ vẫn chỉ là người nuôi dưỡng, không phải cha mẹ nuôi. Vì thế toàn bộ thủ tục xoay quanh một mục tiêu: chứng minh cho xã thấy người nhận đủ điều kiện, đứa trẻ thuộc diện được nhận, những người cần đồng ý đã đồng ý tự nguyện, rồi ghi việc nuôi con nuôi vào sổ.
“Trong nước” ở đây nghĩa là người nhận và trẻ đều là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam. Khi một bên là người nước ngoài, người Việt định cư ở nước ngoài, hoặc người nhận là người nước ngoài thường trú ở Việt Nam, hồ sơ chuyển sang thủ tục có yếu tố nước ngoài với cơ quan cấp tỉnh và cơ quan trung ương tham gia; đó là một quy trình khác hẳn, có danh mục riêng trên trang này.
Từ khi chính quyền địa phương hai cấp vận hành (1/7/2025), việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước vẫn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã như trước, chỉ khác là địa giới xã nhiều nơi đã thay đổi sau sáp nhập. Điều cần nhớ là người làm hồ sơ không phải “xin” con ở đâu cả: đứa trẻ đã có sẵn (con của người quen, con riêng của vợ hoặc chồng, cháu ruột, trẻ được giới thiệu từ cơ sở nuôi dưỡng), và thủ tục chỉ hợp thức hoá một quan hệ mà các bên đã thống nhất, dưới sự kiểm tra của nhà nước để bảo vệ đứa trẻ.
Trước khi đến xã: ba câu phải trả lời được
Người nhận có đủ điều kiện không? Theo Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên, có sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc và có tư cách đạo đức tốt; một số người bị cấm nhận (đang bị hạn chế quyền của cha mẹ với con chưa thành niên, đang chấp hành hình phạt tù…). Cha dượng, mẹ kế và cô, cậu, dì, chú, bác ruột được miễn điều kiện chênh lệch tuổi và điều kiện kinh tế, chỗ ở. Phần điều kiện chi tiết nằm ở danh mục riêng; ở đây chỉ cần bạn tự rà trước để không nộp một bộ hồ sơ chắc chắn bị trả.
Đứa trẻ thuộc diện nào? Trẻ dưới 16 tuổi được nhận làm con nuôi; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ được nhận khi người nhận là cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột. Hoàn cảnh của trẻ quyết định giấy tờ: trẻ đang sống với cha mẹ đẻ, trẻ mồ côi có người giám hộ, trẻ bị bỏ rơi, trẻ đang ở cơ sở nuôi dưỡng – mỗi trường hợp một bộ giấy và một nơi nộp hơi khác nhau.
Ai phải đồng ý? Cha mẹ đẻ của trẻ (hoặc người còn lại nếu một người đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, không xác định được), người giám hộ nếu cả cha mẹ không còn, và chính đứa trẻ nếu từ đủ 9 tuổi. Nếu một trong những người này chưa sẵn sàng, đừng vội nộp: xã sẽ gặp trực tiếp từng người để lấy ý kiến, và một lời đồng ý miễn cưỡng thường đổ vỡ ở chính buổi đó.
Năm bước của thủ tục, theo đúng trình tự
Trình tự dưới đây áp dụng cho trường hợp phổ biến: công dân Việt Nam nhận một đứa trẻ Việt Nam, cả hai đang thường trú trong nước.
- Chuẩn bị hai bộ giấy tờ. Hồ sơ của người nhận (đơn xin nhận con nuôi theo mẫu, giấy tờ tuỳ thân, phiếu lý lịch tư pháp, văn bản về tình trạng hôn nhân, giấy khám sức khoẻ, văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình – chỗ ở – kinh tế) và hồ sơ của trẻ (giấy khai sinh, giấy khám sức khoẻ, hai ảnh toàn thân nhìn thẳng, cộng giấy tờ chứng minh hoàn cảnh nếu có). Hồ sơ lập thành một bộ.
- Nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền — nơi thường trú của người nhận hoặc của trẻ; trẻ bị bỏ rơi chưa vào cơ sở thì nơi đã lập biên bản về trẻ; trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng thì nơi cơ sở đặt trụ sở. Có thể nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến.
- Xã kiểm tra hồ sơ và lấy ý kiến. Luật cho xã 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ để kiểm tra và lấy ý kiến của cha mẹ đẻ, người giám hộ, đứa trẻ từ đủ 9 tuổi. Công chức tư pháp – hộ tịch gặp trực tiếp từng người, tư vấn về hệ quả của việc cho con làm con nuôi, rồi lập văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ.
- Chờ hết thời hạn được thay đổi ý kiến. Người đã đồng ý vẫn có quyền đổi ý trong một thời hạn ngắn kể từ ngày được lấy ý kiến; theo quy định hướng dẫn sửa đổi năm 2026 là 10 ngày làm việc (trước đó là 15 ngày). Quá thời hạn này thì không được rút lại sự đồng ý nữa.
- Đăng ký và giao nhận con nuôi. Trong khoảng 5 ngày làm việc sau khi hết thời hạn đổi ý, nếu thấy đủ điều kiện, xã ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi và tổ chức giao nhận tại trụ sở, có biên bản giao nhận các bên cùng ký. Nếu từ chối, xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Sau bước năm, quan hệ cha mẹ – con giữa người nhận và trẻ có hiệu lực, và bắt đầu thời gian cha mẹ nuôi thông báo định kỳ cho xã về tình hình phát triển của con (xem mục cuối).
Ai làm gì ở mỗi chặng
Một bảng gọn để cả nhà cùng xem trước khi đi nộp. Thời hạn ghi theo văn bản đang áp dụng; địa phương có thể giải quyết nhanh hơn, không được chậm hơn.
| Chặng | Người làm chính | Việc của bạn | Mốc thời gian |
|---|---|---|---|
| Chuẩn bị hồ sơ | Người nhận; cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lo giấy tờ của trẻ | Gom giấy tờ, khám sức khoẻ, xin xác nhận hoàn cảnh | Giấy khám sức khoẻ và xác nhận hoàn cảnh không quá 6 tháng tính đến ngày nộp |
| Nộp và tiếp nhận | Bộ phận một cửa cấp xã | Nộp đủ bộ, nhận giấy hẹn | Ngay khi nộp |
| Kiểm tra, lấy ý kiến | Công chức tư pháp – hộ tịch | Có mặt khi được mời, đưa trẻ và cha mẹ đẻ đến đúng hẹn | Trong 30 ngày kể từ khi đủ hồ sơ hợp lệ |
| Thời hạn đổi ý | Cha mẹ đẻ, người giám hộ, trẻ từ đủ 9 tuổi | Chờ, không gây sức ép lên ai | 10 ngày làm việc kể từ ngày lấy ý kiến |
| Đăng ký, giao nhận | Ủy ban nhân dân cấp xã | Dự buổi giao nhận, ký biên bản, nhận giấy chứng nhận | Khoảng 5 ngày làm việc sau khi hết thời hạn đổi ý |
| Theo dõi sau nhận | Cha mẹ nuôi; xã nơi thường trú | Thông báo tình hình của con định kỳ | 6 tháng một lần trong 3 năm đầu |
Cộng các mốc lại, một bộ hồ sơ suôn sẻ thường xong trong khoảng một tháng rưỡi; phần mất thời gian nhất trên thực tế lại là chặng chuẩn bị, không phải chặng chờ xã.
Nộp trực tiếp, qua bưu chính hay trực tuyến
Quy định hiện hành cho phép nộp hồ sơ theo cả ba cách. Nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa cấp xã vẫn là cách được nhiều gia đình chọn, vì công chức xem hồ sơ tại chỗ, chỉ ra ngay thiếu giấy gì và giải thích luôn lịch lấy ý kiến. Nộp qua bưu chính hợp với người ở xa nơi thường trú của trẻ, nhưng khi có sai sót thì phải gửi đi gửi lại, mất thêm thời gian.
Nộp trực tuyến qua Cổng dịch vụ công đòi hỏi tài khoản định danh điện tử và bản chụp rõ nét của từng giấy tờ. Điểm đáng chú ý là quy định đã cho phép miễn nộp những giấy tờ mà xã tự khai thác được từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành, như giấy tờ tuỳ thân, phiếu lý lịch tư pháp, văn bản về tình trạng hôn nhân, giấy khám sức khoẻ, giấy chứng tử của cha mẹ đẻ trẻ mồ côi. Nếu dữ liệu thiếu hoặc sai, xã sẽ yêu cầu bạn bổ sung giấy tờ và cập nhật lại dữ liệu.
Dù nộp theo cách nào, có hai việc không làm trực tuyến được: buổi lấy ý kiến cha mẹ đẻ và đứa trẻ, và buổi giao nhận con nuôi. Cả hai đều cần các bên có mặt, trừ trường hợp vắng vì lý do khách quan và có văn bản uỷ quyền theo quy định. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi hiện còn được gửi bản điện tử vào kho dữ liệu cá nhân của người dân hoặc hộp thư điện tử, bên cạnh bản giấy.
Những chỗ làm hồ sơ chậm hay gặp
Phần lớn hồ sơ kéo dài không phải vì xã gây khó mà vì một trong các lỗi dưới đây — kiểm tra trước sẽ đỡ một lượt đi lại.
- Giấy khám sức khoẻ hoặc xác nhận hoàn cảnh đã quá 6 tháng tính đến ngày nộp — hay xảy ra khi gia đình chuẩn bị sớm rồi chần chừ.
- Thông tin lệch giữa các giấy: tên đứa trẻ trên giấy khai sinh khác cách gọi ở nhà, năm sinh của người nhận trên giấy cũ khác dữ liệu dân cư.
- Nộp nhầm xã: người nhận và trẻ ở hai xã khác nhau thì được chọn một trong hai, nhưng tạm trú một nơi, thường trú một nơi thì phải theo nơi thường trú.
- Cha mẹ đẻ chưa thật sự thống nhất: một người đồng ý, người kia chưa được hỏi hoặc chưa biết — xã bắt buộc lấy ý kiến cả hai khi cả hai còn đủ điều kiện.
- Đứa trẻ từ đủ 9 tuổi chưa được chuẩn bị: buổi lấy ý kiến hỏi chính trẻ, và câu trả lời ngập ngừng sẽ khiến xã xem xét kỹ hơn.
- Chênh lệch tuổi không đủ 20 năm trong khi người nhận không thuộc diện được miễn điều kiện này.
Danh mục đầy đủ về những lý do hồ sơ bị trả lại hoặc bị từ chối, và cách xử lý từng lý do, có bài riêng trong cùng chuyên mục.
Sau khi nhận: theo dõi ba năm đầu và khi nào cần người làm nghề
Luật Nuôi con nuôi 2010 (Điều 23) đặt nghĩa vụ cho cha mẹ nuôi thông báo tình hình phát triển của con nuôi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú, định kỳ 6 tháng một lần trong 3 năm kể từ ngày giao nhận. Nếu chuyển nơi thường trú khi chưa hết thời hạn, cha mẹ nuôi tiếp tục thông báo cho xã nơi chuyển đến. Đây không phải thủ tục hình thức: đó là cách nhà nước theo dõi việc trẻ thật sự được chăm sóc, và hồ sơ theo dõi đầy đủ cũng là bằng chứng tốt cho gia đình nếu sau này có tranh chấp.
Các việc giấy tờ tiếp theo như sửa giấy khai sinh, đổi họ tên cho con, cập nhật cư trú, căn cước được làm theo pháp luật hộ tịch và cư trú; danh mục hộ tịch của trang này đi từng việc.
Phần lớn các gia đình tự làm được thủ tục trong nước. Nên tìm người làm nghề khi cha mẹ đẻ đang tranh chấp quyền nuôi con, khi một bên cha mẹ đẻ không rõ tung tích mà chưa có quyết định của toà án, khi đứa trẻ đã được nuôi “miệng” nhiều năm và giấy tờ chồng chéo, hoặc khi có bất kỳ yếu tố nước ngoài nào. Với những tình huống đó, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được xem cụ thể hồ sơ của mình trước khi nộp.
Câu hỏi thường gặp
Nhận con nuôi trong nước có phải ra toà án không?
Không. Việc đăng ký nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú trong nước do Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết. Toà án chỉ xuất hiện ở các việc liên quan như tuyên bố cha mẹ đẻ mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc về sau là yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Hai vợ chồng có phải cùng có mặt khi nộp hồ sơ không?
Khi nộp, một người có thể đứng ra nộp bộ hồ sơ chung, nhưng đơn phải thể hiện ý chí của cả hai vợ chồng cùng nhận. Ở buổi giao nhận con nuôi, quy định yêu cầu cha mẹ nuôi có mặt; ai vắng vì lý do khách quan phải có văn bản uỷ quyền theo quy định.
Nộp hồ sơ xong bao lâu thì xã gọi lấy ý kiến?
Xã có 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ để kiểm tra và lấy ý kiến, nên lịch gặp thường rơi vào vài tuần đầu. Nếu cha mẹ đẻ hoặc trẻ thường trú ở xã khác, xã nơi trẻ thường trú được nhờ lấy ý kiến và phải làm trong khoảng 8 ngày làm việc.
Chưa hết thời hạn đổi ý mà gia đình đã đón cháu về nuôi thì có sao không?
Việc chăm sóc tạm thời trước khi đăng ký không bị cấm, nhưng về pháp lý quan hệ cha mẹ nuôi chưa phát sinh. Nếu cha mẹ đẻ đổi ý trong thời hạn, đứa trẻ phải được trả về và gia đình không có căn cứ giữ lại, nên tốt nhất đừng đặt nặng kỳ vọng trước ngày giao nhận.
Có cần làm lễ giao nhận nếu trẻ đã ở với gia đình từ lâu?
Vẫn có buổi giao nhận tại trụ sở xã, kèm biên bản giao nhận có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên. Với trẻ đã sống cùng gia đình, buổi này thường ngắn, nhưng là mốc pháp lý ghi nhận quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ chuyển sang cha mẹ nuôi.
Thủ tục nhận con nuôi có thay đổi từ khi không còn cấp huyện không?
Thủ tục trong nước vốn đã do cấp xã làm nên không đổi thẩm quyền. Những thay đổi đáng kể gần đây đến từ các nghị định sửa đổi năm 2025 và 2026: cho phép miễn nộp giấy tờ xã tự tra được, rút ngắn thời hạn đổi ý và thời hạn lấy ý kiến ở xã khác.