ConNuoi.comCon Nuôi
Ai được nhận con nuôi, ai được làm con nuôi

Cặp đôi chưa đăng ký kết hôn, cặp đồng giới nhận con nuôi: luật cho phép đến đâu

Cặp đôi không đăng ký kết hôn hay cặp đồng giới không thể cùng đứng tên cha mẹ nuôi. Một người có thể nhận với tư cách độc thân. Hệ quả và cách bảo vệ đứa trẻ.

Two adults seen from behind painting a small bedroom wall pale yellow in a Ho Chi Minh City apartment, rollers in hand, drop cloth on the floor, afternoon sun

Theo pháp luật hiện hành, một đứa trẻ chỉ có thể là con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Hai người sống chung không đăng ký kết hôn, và hai người cùng giới tính, không phải là vợ chồng trên giấy tờ, nên không thể cùng đứng tên làm cha mẹ nuôi của một đứa trẻ. Một trong hai người có thể nhận con nuôi với tư cách người độc thân nếu đủ điều kiện.

Với cặp đồng giới, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Luật Nuôi con nuôi 2010 không có điều khoản loại trừ người nhận theo xu hướng tính dục; điều kiện xét vẫn là các điều kiện chung với người nhận.

Bài này trình bày trung lập điều luật đang cho phép và chưa cho phép, rồi tập trung vào câu hỏi thực tế: khi chỉ một người là cha hoặc mẹ nuôi trên giấy tờ, gia đình cần làm gì để đứa trẻ được bảo vệ.

Vì sao không thể cùng đứng tên

Luật Nuôi con nuôi 2010 chỉ có hai hình thức người nhận: một người độc thân, hoặc hai người là vợ chồng. Hai người là vợ chồng theo pháp luật khi đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Việc sống chung, tổ chức đám cưới theo phong tục, có con chung hay cùng mua nhà đều không thay thế được việc đăng ký kết hôn khi xét tư cách vợ chồng.

Vì vậy, với cặp nam nữ sống chung chưa đăng ký kết hôn, giải pháp pháp lý rõ ràng nhất là đăng ký kết hôn trước, nếu cả hai đủ điều kiện và mong muốn, rồi cùng nhận con nuôi như vợ chồng. Khi đó đứa trẻ là con chung của cả hai. Nếu hai người chưa muốn kết hôn, chỉ một người có thể đứng tên.

Với cặp cùng giới, con đường đăng ký kết hôn không có theo luật hiện hành. Đây là thực tế pháp lý mà các gia đình cần biết rõ để tính toán, không phải là đánh giá về giá trị của mối quan hệ. Pháp luật có thể thay đổi trong tương lai; bạn nên đối chiếu quy định tại thời điểm làm thủ tục.

Cùng một mong muốn, ba hoàn cảnh pháp lý khác nhau

Bảng so sánh ba trường hợp hai người lớn cùng muốn nuôi một đứa trẻ, theo pháp luật hiện hành.

Nội dungVợ chồng đã đăng ký kết hônNam nữ sống chung chưa đăng kýHai người cùng giới
Ai đứng tên nhậnCả haiMột người, với tư cách độc thânMột người, với tư cách độc thân
Người còn lại với đứa trẻLà cha hoặc mẹ nuôiKhông có quan hệ pháp lý cha mẹ – conKhông có quan hệ pháp lý cha mẹ – con
Có thể chuyển thành cả hai cùng là cha mẹ nuôiĐã làCần hỏi cơ quan đăng ký nếu sau này kết hônKhông theo luật hiện hành
Thừa kế theo pháp luật từ người còn lạiCó, hàng thứ nhấtKhông, chỉ qua di chúcKhông, chỉ qua di chúc
Người còn lại đại diện cho trẻCóKhông đương nhiên, cần uỷ quyền khi được phépKhông đương nhiên, cần uỷ quyền khi được phép

Cột giữa và cột cuối giống nhau về hệ quả với đứa trẻ. Điểm khác là cặp nam nữ có thể thay đổi tình trạng bằng cách đăng ký kết hôn, còn cặp cùng giới thì chưa.

Khi một người nhận với tư cách độc thân: những điều cần biết

Hồ sơ là của một người. Người đứng tên phải đáp ứng đủ các điều kiện chung: năng lực hành vi, hơn trẻ từ 20 tuổi trở lên nếu không thuộc nhóm người thân được miễn, sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở và tư cách đạo đức. Thu nhập và chỗ ở được xem theo hoàn cảnh thực tế của người đó.

Cán bộ xác minh có thể biết về người cùng sống. Xác minh hoàn cảnh gia đình thường bao gồm chỗ ở và những người sống cùng nhà. Trình bày trung thực về người bạn đời và vai trò của họ trong việc chăm sóc đứa trẻ là cách đúng; che giấu có thể khiến hồ sơ bị nghi ngờ hoặc việc đăng ký bị xem xét lại.

Sự đồng ý của cha mẹ đẻ là cho người đứng tên. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đồng ý cho trẻ làm con nuôi của một người cụ thể. Nên nói rõ với họ về hoàn cảnh gia đình để sự đồng ý dựa trên thông tin đầy đủ, tránh tranh chấp sau này.

Đứa trẻ từ đủ 9 tuổi cũng phải đồng ý. Với trẻ lớn, việc trẻ hiểu và chấp nhận hoàn cảnh gia đình mới quan trọng không kém giấy tờ. Trò chuyện thật với trẻ trước khi trẻ được hỏi ý kiến chính thức.

Bảo vệ đứa trẻ khi chỉ có một cha hoặc một mẹ nuôi trên giấy tờ

Người bạn đời không đứng tên vẫn có thể là người chăm sóc chính trong đời sống. Để khoảng trống pháp lý không làm đứa trẻ thiệt thòi, gia đình có thể cân nhắc những công cụ sau, tuỳ hoàn cảnh và trong khuôn khổ pháp luật:

  • Di chúc của cả hai người: người đứng tên lập di chúc ghi rõ ý nguyện; người không đứng tên muốn để tài sản cho đứa trẻ thì bắt buộc phải có di chúc, vì trẻ không thừa kế theo pháp luật từ họ.
  • Trao đổi trước về người giám hộ: nếu người đứng tên mất hoặc mất năng lực hành vi, Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về người giám hộ; người bạn đời không đương nhiên là giám hộ, nên tìm hiểu cơ chế cử, chỉ định người giám hộ và việc người được giám hộ hoặc người thân lựa chọn trước theo quy định.
  • Giấy uỷ quyền cho những việc được phép uỷ quyền, như đưa đón, làm việc với nhà trường trong phạm vi nhà trường chấp nhận.
  • Bảo hiểm có người thụ hưởng là đứa trẻ, nếu gia đình có điều kiện.
  • Ghi chép, lưu giữ giấy tờ về đóng góp của người bạn đời vào tài sản chung của hai người, để tránh tranh chấp nếu quan hệ hai người lớn thay đổi.

Những công cụ này không tạo ra quan hệ cha mẹ – con và không thay được việc đăng ký. Chúng chỉ giảm bớt rủi ro. Với những tình huống có tài sản lớn hoặc quan hệ phức tạp, bạn nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được tư vấn theo hoàn cảnh cụ thể.

Khi quan hệ của hai người lớn thay đổi

Một rủi ro ít được nói tới: hai người chia tay. Với vợ chồng ly hôn, Toà án giải quyết việc nuôi con chung, cấp dưỡng, thăm nom. Với cặp không đăng ký kết hôn hoặc cặp cùng giới, người không đứng tên không có quyền pháp lý với đứa trẻ, dù họ đã nuôi nó nhiều năm. Ngược lại, họ cũng không có nghĩa vụ cấp dưỡng theo luật.

Đứa trẻ là người chịu thiệt nhiều nhất trong tình huống đó, vì mất đi một người thân mà không có cơ chế nào giữ lại liên lạc. Người lớn có trách nhiệm đạo lý tìm cách để trẻ tiếp tục gặp người đã nuôi mình nếu điều đó tốt cho trẻ, dù luật không buộc.

Ngược lại, nếu người đứng tên qua đời, người bạn đời đã chăm trẻ hằng ngày có thể bị đặt ra ngoài khi họ hàng của người đã mất đến nhận trẻ hoặc làm giám hộ. Chuẩn bị giấy tờ từ sớm, trao đổi với gia đình hai bên, là cách giảm khả năng đứa trẻ bị giằng co.

Cặp nam nữ sống chung: đăng ký kết hôn trước hay một người nhận trước

Với cặp nam nữ chưa đăng ký kết hôn, câu hỏi thực tế là nên kết hôn rồi cùng nhận, hay để một người nhận trước rồi tính sau. Về pháp lý, hai con đường này cho kết quả rất khác. Nếu kết hôn trước, đứa trẻ là con nuôi của cả hai ngay từ ngày đăng ký, có đủ quyền với cả hai phía. Nếu một người nhận trước, người kia muốn trở thành cha hoặc mẹ nuôi về sau sẽ gặp câu hỏi pháp lý chưa có lời giải đơn giản, như đã nói ở trên.

Đăng ký kết hôn cũng kéo theo những hệ quả khác ngoài chuyện con nuôi: chế độ tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai người, quyền thừa kế của nhau. Đó là quyết định của hai người lớn, không nên chỉ vì thủ tục con nuôi mà vội vàng. Nhưng nếu hai người đã thật sự định gắn bó lâu dài, kết hôn trước khi nhận con thường là lựa chọn bảo vệ đứa trẻ tốt nhất.

Trong trường hợp một người nhận trước, cả hai nên thống nhất bằng văn bản giữa họ về việc cùng chăm sóc và chi phí nuôi đứa trẻ. Văn bản như vậy không tạo quan hệ cha mẹ – con và không ràng buộc như một bản án, nhưng giúp ghi lại ý chí của hai người nếu sau này có tranh chấp về tài sản đã góp cho đứa trẻ.

Những điều không nên làm

Không khai là vợ chồng khi chưa đăng ký kết hôn để cùng đứng tên. Giấy tờ về tình trạng hôn nhân được kiểm tra, và khai không đúng là hành vi giả mạo thông tin, có thể khiến việc đăng ký bị huỷ, gây hại cho chính đứa trẻ.

Không làm giấy khai sinh ghi người bạn đời là cha hoặc mẹ đẻ. Đây là khai sai sự thật về hộ tịch, vừa vi phạm pháp luật, vừa tạo ra một quan hệ giả mà về sau đứa trẻ phải gánh khi phát hiện ra hoặc khi giấy tờ cần chỉnh sửa.

Không nhờ người khác đứng tên nhận con nuôi rồi giao trẻ cho mình nuôi. Đây là lợi dụng việc nuôi con nuôi, thuộc nhóm hành vi bị cấm, và để lại đứa trẻ trong một khoảng trống pháp lý hoàn toàn. Đường đúng, dù chậm và không trọn vẹn, vẫn là một người đứng tên với tư cách độc thân và các công cụ bảo vệ bổ sung.

Câu hỏi thường gặp

Cặp đôi đã tổ chức đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn có cùng nhận con nuôi được không?

Không. Tư cách vợ chồng trong hồ sơ nuôi con nuôi căn cứ việc đăng ký kết hôn. Nếu cả hai muốn cùng là cha mẹ nuôi, cần đăng ký kết hôn trước; nếu không, chỉ một người đứng tên với tư cách độc thân.

Người đồng tính có được nhận con nuôi một mình không?

Luật Nuôi con nuôi 2010 không loại trừ người nhận theo xu hướng tính dục. Người đó có thể nhận với tư cách người độc thân nếu đáp ứng các điều kiện chung và không thuộc trường hợp bị cấm. Bạn nên đối chiếu quy định tại thời điểm làm thủ tục.

Người bạn đời không đứng tên có được ghi tên trên giấy khai sinh của trẻ không?

Không. Giấy khai sinh của con nuôi chỉ ghi thông tin cha mẹ theo quan hệ đã được pháp luật xác lập. Ghi người bạn đời là cha hoặc mẹ khi không có căn cứ là khai sai hộ tịch.

Đứa trẻ có được thừa kế của người bạn đời không đứng tên không?

Không theo pháp luật, vì giữa hai người không có quan hệ cha mẹ – con. Người bạn đời muốn để lại tài sản cho đứa trẻ cần lập di chúc hợp pháp. Thủ tục di chúc chung có ở trang thừa kế trong cùng hệ thống.

Sau khi một người nhận con nuôi, hai người đăng ký kết hôn thì người kia có thành cha mẹ nuôi không?

Không tự động. Việc người vợ hoặc chồng sau này xác lập quan hệ cha mẹ nuôi với đứa trẻ cần hỏi kỹ cơ quan đăng ký về cách làm đúng quy định, vì luật chỉ cho trẻ làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.