Quyền thừa kế của con nuôi với cha mẹ nuôi là rõ ràng. Với ông bà, anh chị em, cô chú bên nhà cha mẹ nuôi thì chưa rõ như vậy: hàng thừa kế thứ hai và thứ ba trong Bộ luật Dân sự 2015 dùng các chữ "anh ruột, chị ruột, em ruột", "cháu ruột", "chú ruột, cô ruột", và luật không nói con nuôi có được coi là "ruột" hay không.
Kết quả là tồn tại hai cách hiểu, và trong một vụ tranh chấp cụ thể, kết luận phụ thuộc vào cách Toà án đánh giá. Bài này trình bày công bằng cả hai cách đọc, chỉ ra những điểm đã chắc chắn, và cách gia đình có con nuôi tự xếp đặt để không phải chờ ai giải thích luật thay mình.
Văn bản nói gì, và vì sao có chỗ để tranh luận
Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 đặt hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết, và cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà. Hàng thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại; bác, chú, cậu, cô, dì ruột; cháu ruột của người chết mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ. Chữ "ruột" xuất hiện ở hầu hết các vị trí.
Điều 653 chỉ nói về quan hệ giữa con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi. Còn Luật Nuôi con nuôi 2010 nói rằng giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các luật khác có liên quan. Nghĩa là luật chuyên ngành thừa nhận có quan hệ, nhưng lại dẫn ngược về Bộ luật Dân sự để biết quan hệ đó cụ thể gồm gì.
Vòng dẫn chiếu này tạo ra khoảng trống. Bài viết không dẫn được một văn bản hướng dẫn thống nhất nào lấp kín khoảng trống đó, nên chỗ nào còn tranh luận sẽ được ghi rõ là còn tranh luận, thay vì đưa ra một câu trả lời chắc nịch.
Hai cách đọc luật
Cách đọc chặt: "ruột" là quan hệ huyết thống. Theo cách này, con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với chính cha mẹ nuôi. Con nuôi không phải anh chị em ruột của con đẻ của cha mẹ nuôi, không phải cháu ruột của ông bà nuôi, nên không đứng ở hàng thứ hai, thứ ba của họ và ngược lại. Lập luận dựa vào câu chữ: nhà làm luật đã gọi đích danh "cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi" ở hàng thứ nhất, nếu muốn mở rộng thì đã viết tương tự ở các hàng sau.
Cách đọc rộng: con nuôi hoà vào gia đình như con đẻ. Cách này dựa vào tinh thần của Luật Nuôi con nuôi 2010: kể từ ngày giao nhận, con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ của con và có quyền, nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình. Nếu con nuôi được coi như con đẻ thì quan hệ với ông bà, anh chị em cũng phải được nhìn nhận tương ứng, kể cả về thừa kế.
Thực tế áp dụng. Nhiều ý kiến trong giới luật nghiêng về cách đọc chặt vì bám sát câu chữ, nhưng chưa có sự thống nhất tuyệt đối. Điều chắc chắn duy nhất là: nếu gia đình để mọi thứ cho việc chia theo pháp luật, con nuôi ở thế bất lợi và kết quả khó đoán. Đó là lý do phần cuối bài dành cho di chúc và tặng cho.
Những gì đã chắc và những gì còn bỏ ngỏ
Không phải mọi quan hệ đều mù mờ. Bảng dưới tách riêng hai nhóm.
| Quan hệ | Tình trạng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Con nuôi với cha nuôi, mẹ nuôi | Chắc chắn có, hàng thứ nhất | Điều 651 và 653 Bộ luật Dân sự 2015 |
| Con nuôi với cha mẹ đẻ | Chắc chắn có, hàng thứ nhất | Quan hệ huyết thống không mất |
| Con nuôi với anh chị em ruột, ông bà bên gia đình đẻ | Có, theo hàng thứ hai, thứ ba | Vẫn là quan hệ "ruột" |
| Con nuôi với con đẻ của cha mẹ nuôi | Còn tranh luận | Có phải "anh chị em ruột" không |
| Hai con nuôi của cùng cha mẹ nuôi với nhau | Còn tranh luận, nghiêng về không | Không có huyết thống, không có điều luật riêng |
| Con nuôi với ông bà, cô chú bên nhà nuôi | Còn tranh luận | Hàng thứ hai, thứ ba dùng chữ "ruột" |
| Con nuôi thế vị ông bà nuôi khi cha mẹ nuôi chết trước | Có ý kiến khác nhau | Xem bài thế vị trong danh mục |
Một hệ quả ít người để ý: vì quan hệ với gia đình đẻ vẫn còn nguyên, con nuôi có thể nhận thừa kế từ ông bà, anh chị em ruột bên gia đình đẻ, trong khi quan hệ với ông bà, anh chị em bên nhà nuôi lại không chắc. Với người lớn lên trọn trong gia đình nuôi, điều này nhiều khi ngược với tình cảm thật.
Ví dụ giả định: em gái nuôi và căn nhà của người anh độc thân
Ví dụ giả định. Vợ chồng ông Sơn có một con trai đẻ là Khoa và một con gái nuôi là Ngọc, đăng ký từ khi Ngọc lên 2. Ông bà Sơn đều đã mất. Năm 2026, Khoa mất khi chưa vợ con, để lại căn hộ riêng ở Đà Nẵng, không để di chúc. Hàng thứ nhất của Khoa không còn ai. Hàng thứ hai gồm ông bà nội ngoại, đã mất, và anh chị em ruột.
Ngọc là người duy nhất lớn lên cùng Khoa. Theo cách đọc rộng, Ngọc là em gái của Khoa và hưởng toàn bộ căn hộ. Theo cách đọc chặt, Ngọc không phải em ruột, hàng thứ hai coi như trống, di sản chuyển xuống hàng thứ ba: các bác, chú, cô, cậu, dì ruột của Khoa, những người có khi ít gặp Khoa nhiều năm.
Hai cách đọc cho ra hai kết quả trái ngược. Nếu họ hàng hàng thứ ba lên tiếng đòi, vụ việc rất có thể phải ra toà và kết quả không đoán trước được. Chỉ một tờ di chúc của Khoa, hoặc một điều khoản dự phòng trong di chúc của ông bà Sơn, đã khiến câu hỏi này không bao giờ phải đặt ra.
Cũng nên để ý: nếu Ngọc được hưởng theo cách đọc rộng, các thủ tục khai nhận vẫn cần giấy tờ chứng minh quan hệ, gồm Giấy chứng nhận nuôi con nuôi của chính Ngọc và giấy khai sinh của Khoa, để thể hiện hai người là con của cùng cha mẹ. Công chứng viên gặp ca này thường thận trọng và có thể đề nghị các bên giải quyết tại Toà án nếu có người phản đối.
Chiều ngược lại: họ hàng bên nhà nuôi có thừa kế của con nuôi không
Câu hỏi này ít được đặt ra hơn nhưng cũng có thật: một người con nuôi mất khi chưa vợ con, cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ đều đã mất trước. Hàng thứ nhất trống. Hàng thứ hai của người đó gồm ai? Theo quan hệ huyết thống thì chắc chắn có ông bà, anh chị em ruột bên gia đình đẻ. Còn anh chị em lớn lên cùng nhà, ông bà nuôi thì rơi vào đúng vùng còn tranh luận như chiều thuận.
Hệ quả có thể gây bất ngờ: tài sản một người dành dụm cả đời trong gia đình nuôi lại đi về phía anh chị em ruột bên gia đình đẻ, những người có khi chưa từng gặp mặt, trong khi anh chị em nuôi đã chăm sóc người đó lúc ốm đau không chắc có phần. Nếu bên gia đình đẻ cũng không còn ai hoặc không xác định được, di sản có thể đi xuống hàng thứ ba, hoặc khi không còn người thừa kế nào thì thuộc về Nhà nước theo Bộ luật Dân sự.
Với con nuôi trưởng thành sống độc thân, đây là lý do thiết thực nhất để lập di chúc, dù tài sản không lớn. Một tờ di chúc ghi tên anh chị em nuôi hoặc cháu nuôi sẽ khiến cả hai cách đọc luật trở nên không cần thiết.
Gia đình có con nuôi nên tự xếp đặt thế nào
Vì luật để ngỏ, cách chắc nhất là để chính người có tài sản nói rõ ý mình khi còn sống. Một số công cụ thường dùng:
- Ông bà bên nhà nuôi lập di chúc nhắc tên cháu nuôi, ghi rõ họ tên, ngày sinh, quan hệ, phần được hưởng.
- Anh chị em trong nhà, con đẻ và con nuôi, lập di chúc cho nhau khi còn độc thân hoặc không có con, nhất là khi có tài sản riêng đáng kể.
- Cha mẹ nuôi lập di chúc có điều khoản dự phòng: nếu một người con chết trước thì phần của người đó thuộc về các con của người đó, kể cả con nuôi.
- Tặng cho khi còn sống những tài sản muốn chắc chắn về tay con nuôi hoặc cháu nuôi, có công chứng và đăng ký sang tên theo quy định.
- Ghi lại mong muốn bằng văn bản ngay cả khi chưa lập di chúc, để con cháu hiểu ý, dù văn bản đó không thay được di chúc.
Di chúc không cần dài hay phức tạp; chỉ cần đúng hình thức và rõ ràng. Hình thức di chúc và người làm chứng có hướng dẫn chung ở trang thừa kế của cụm.
Nói chuyện trong gia đình để con nuôi không phải đứng ngoài
Phần lớn tranh chấp loại này không đến từ ác ý, mà từ việc không ai nghĩ đến trước. Ông bà nuôi thương cháu nuôi như cháu ruột, anh chị em gắn bó từ nhỏ, và ai cũng mặc định rằng "trong nhà thì như nhau". Khi người có tài sản mất đột ngột, những người còn lại mới phát hiện ra luật không mặc định giống mình.
Một cuộc nói chuyện thẳng thắn, ở thời điểm không có ai ốm đau hay tài sản nào đang cần chia, giúp mọi người thống nhất mong muốn và chọn công cụ. Với con nuôi đã lớn, được nghe cha mẹ, anh chị em nói rõ ý định cũng là một cách khẳng định vị trí của mình trong gia đình, điều có giá trị không kém phần tài sản.
Khi tài sản lớn hoặc gia đình có nhiều nhánh, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để chọn giữa di chúc, tặng cho hay kết hợp cả hai, và để biết điều khoản dự phòng nào phù hợp với hoàn cảnh nhà mình.
Câu hỏi thường gặp
Con nuôi có được hưởng di sản của ông bà nội nuôi khi bố nuôi còn sống không?
Khi bố nuôi còn sống, ông bà nội nuôi có người thừa kế ở hàng thứ nhất là các con, trong đó có bố nuôi. Cháu, dù là cháu đẻ hay cháu nuôi, không trực tiếp hưởng di sản theo pháp luật, trừ khi ông bà để lại di chúc cho cháu.
Con đẻ và con nuôi của cùng cha mẹ có được coi là anh em ruột khi chia thừa kế không?
Đây là điểm còn tranh luận. Cách đọc theo câu chữ cho rằng "anh chị em ruột" là anh chị em cùng huyết thống, nên con nuôi không thuộc nhóm này. Cách đọc theo tinh thần Luật Nuôi con nuôi 2010 thì ngược lại. Để chắc chắn, anh chị em nên lập di chúc cho nhau nếu muốn.
Con nuôi có phải là người thừa kế của chú ruột bên bố nuôi không?
Hàng thừa kế thứ ba của người chú gồm các cháu ruột của người đó. Con nuôi của anh em người chú có được coi là cháu ruột hay không chưa có câu trả lời thống nhất. Trên thực tế, khả năng này chỉ đặt ra khi người chú không còn ai ở hàng thứ nhất và thứ hai.
Con nuôi vẫn được thừa kế của anh chị em ruột bên gia đình đẻ phải không?
Đúng. Việc làm con nuôi không xoá quan hệ huyết thống, nên con nuôi vẫn là anh, chị, em ruột của anh chị em bên gia đình đẻ và có thể đứng ở hàng thừa kế thứ hai của họ khi hàng thứ nhất không còn ai.
Ông bà nuôi lập di chúc cho cháu nuôi thì các con có phản đối được không?
Các con chỉ có thể phản đối nếu di chúc không hợp pháp về hình thức, nội dung hoặc người lập không minh mẫn, bị ép buộc. Ngoài ra, những người được hưởng phần không phụ thuộc di chúc của ông bà, như vợ hoặc chồng, con chưa thành niên, vẫn được bảo đảm phần của họ theo luật.
Tặng cho nhà đất cho cháu nuôi khi còn sống có an toàn hơn di chúc không?
Tặng cho có hiệu lực ngay và tài sản không còn là di sản, nên tránh được tranh chấp thừa kế về sau. Đổi lại, người tặng mất quyền với tài sản kể từ khi đăng ký sang tên. Chọn cách nào tuỳ vào việc ông bà có còn cần tài sản đó để ở, để sinh sống hay không.