Cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi là trường hợp được Luật Nuôi con nuôi 2010 ưu đãi: không cần hơn con nuôi 20 tuổi, không phải chứng minh điều kiện sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở, và được nhận cả trẻ từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Nhưng không có miễn trừ nào cho sự đồng ý: người cha hoặc mẹ đẻ còn lại của đứa trẻ, nếu còn sống và xác định được, vẫn phải đồng ý; trẻ từ đủ 9 tuổi cũng phải đồng ý.
Đây là trường hợp nhận con nuôi trong nước phổ biến nhất ở các gia đình tái hôn. Bài này đi từ điều kiện, hồ sơ, tới những hệ quả ít người tính trước: người cha đẻ hết nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền thừa kế thay đổi ra sao, và chuyện gì xảy ra nếu cuộc hôn nhân mới cũng tan vỡ. Trường hợp người chồng là người nước ngoài có thủ tục riêng, không thuộc bài này.
Điều kiện: cái gì được miễn, cái gì không
So với người ngoài gia đình, cha dượng và mẹ kế được nới khá nhiều. Bảng tóm theo Luật Nuôi con nuôi 2010:
| Điều kiện | Người ngoài gia đình | Cha dượng, mẹ kế |
|---|---|---|
| Năng lực hành vi dân sự đầy đủ | Bắt buộc | Bắt buộc |
| Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên | Bắt buộc | Được miễn |
| Điều kiện sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở | Phải chứng minh | Được miễn |
| Tư cách đạo đức tốt, không thuộc nhóm bị loại | Bắt buộc | Bắt buộc |
| Tuổi của trẻ | Dưới 16 tuổi | Dưới 18 tuổi |
| Sự đồng ý của cha mẹ đẻ và của trẻ từ đủ 9 tuổi | Bắt buộc | Bắt buộc |
Hai dòng cuối là chỗ hay bị hiểu sai. Ưu đãi chỉ chạm tới tuổi và điều kiện vật chất; còn các trường hợp bị loại (đang bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, đang chấp hành hình phạt tù, chưa được xoá án tích về một số tội cố ý xâm phạm người khác…) vẫn áp dụng như với mọi người.
Phải là "cha dượng, mẹ kế" theo đúng nghĩa pháp lý
Có đăng ký kết hôn. Ưu đãi dựa trên quan hệ hôn nhân hợp pháp với cha hoặc mẹ của trẻ. Người đang sống chung nhưng chưa đăng ký kết hôn thường không được coi là cha dượng, mẹ kế, nên phải đáp ứng điều kiện chung như người ngoài.
Hôn nhân còn tồn tại khi nộp hồ sơ. Nếu cha dượng và mẹ của trẻ đã ly hôn trước khi nộp, tư cách cha dượng không còn để hưởng ưu đãi.
Đứa trẻ là con riêng thật sự. Tức là con của vợ (hoặc chồng) với người khác, có giấy khai sinh thể hiện quan hệ mẹ – con (hoặc cha – con) với người vợ (hoặc chồng) hiện tại.
Người vợ hoặc chồng vẫn giữ nguyên vai trò. Người mẹ đẻ đang là vợ của cha dượng không "cho" con cho chồng; chị vẫn là mẹ của con. Việc nuôi con nuôi xác lập thêm quan hệ cha – con giữa cha dượng và đứa trẻ. Người mất quyền, nghĩa vụ là cha đẻ bên ngoài, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Hồ sơ và các bước
Nơi nộp là UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ hoặc của người nhận. Danh mục giấy tờ chuẩn theo văn bản hiện hành; thường gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi theo mẫu của cơ quan hộ tịch.
- Giấy tờ tuỳ thân của người nhận; giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân với cha hoặc mẹ của trẻ (giấy chứng nhận kết hôn hoặc trích lục).
- Phiếu lý lịch tư pháp của người nhận.
- Giấy tờ của trẻ: giấy khai sinh, ảnh; giấy khám sức khoẻ của trẻ theo yêu cầu hồ sơ.
- Không cần giấy khám sức khoẻ của người nhận và văn bản xác nhận hoàn cảnh kinh tế, chỗ ở — đây là phần được miễn với cha dượng, mẹ kế.
- Nộp hồ sơ, sau đó cán bộ tư pháp lấy ý kiến của cha mẹ đẻ (người vợ hoặc chồng hiện tại và người cha hoặc mẹ đẻ bên ngoài) và của trẻ từ đủ 9 tuổi.
- Chờ hết thời hạn thay đổi ý kiến, rồi đăng ký, nhận giấy chứng nhận nuôi con nuôi và tổ chức giao nhận.
Nếu người cha đẻ bên ngoài đã chết, có thể cần trích lục khai tử; nếu bị Toà án tuyên bố mất tích, cần quyết định của Toà. Nếu giấy khai sinh của trẻ để trống phần cha thì không cần ý kiến của người cha. Bài về cha mẹ đẻ đã ly hôn trong danh mục này phân tích kỹ khi người cha bên ngoài không hợp tác.
Mẹ kế nhận con riêng của chồng: vài điểm riêng
Phần lớn câu chuyện con riêng xoay quanh người cha dượng, nhưng mẹ kế nhận con riêng của chồng cũng được hưởng đúng các ưu đãi đó. Có vài điểm thực tế khác. Thường gặp nhất là đứa trẻ có mẹ đẻ đã ra nước ngoài làm việc hoặc lấy chồng khác, ít liên lạc; người cha nuôi con một mình rồi tái hôn. Mẹ đẻ trong trường hợp này vẫn phải cho ý kiến, và việc lấy ý kiến người ở nước ngoài thường tốn thời gian hơn nhiều so với người ở trong nước.
Điểm thứ hai là tâm lý. Với nhiều trẻ, chữ "mẹ" nặng hơn chữ "bố"; việc gọi mẹ kế là mẹ có thể khiến trẻ cảm thấy có lỗi với mẹ đẻ. Người lớn không nên coi việc trẻ chưa đổi cách gọi là dấu hiệu từ chối. Đăng ký con nuôi xác lập quyền và nghĩa vụ; tình mẹ con thì đến theo nhịp riêng của nó.
Điểm thứ ba là con chung. Nếu mẹ kế và người cha đã có con chung, việc nhận con riêng làm con nuôi giúp các con đứng ngang nhau về quyền thừa kế và nghĩa vụ chăm sóc của cha mẹ, giảm hẳn nguy cơ tranh chấp sau này.
Những chỗ hồ sơ con riêng hay vấp
Hồ sơ cha dượng, mẹ kế nhìn đơn giản vì được miễn nhiều giấy tờ, nhưng vẫn có những chỗ khiến việc giải quyết kéo dài:
- Giấy khai sinh của trẻ ghi thông tin người mẹ khác với giấy tờ tuỳ thân hiện tại (sai năm sinh, sai chữ), cần cải chính trước.
- Quan hệ hôn nhân với người mẹ chưa được đăng ký, hoặc giấy chứng nhận kết hôn đã mất mà chưa xin trích lục.
- Người cha đẻ bên ngoài đã đổi chỗ ở nhiều lần, không ai biết địa chỉ để cán bộ lấy ý kiến.
- Trẻ sắp tròn 18 tuổi nhưng gia đình nộp hồ sơ quá sát ngày.
- Gia đình nộp kèm một tờ giấy "đồng ý" do cha đẻ ký sẵn ở nhà, tưởng là đủ, trong khi ý kiến phải do cơ quan giải quyết lấy theo trình tự.
- Người nhận có tiền án chưa được xoá án tích mà không biết, đến khi có phiếu lý lịch tư pháp mới lộ ra.
Kiểm tra trước những điểm này giúp bạn tránh bị trả hồ sơ, hoặc ít nhất biết mình phải xử lý việc gì trước khi nộp.
Người cha đẻ bên ngoài: mất gì và còn gì
Khi việc nuôi con nuôi được đăng ký, người cha đẻ bên ngoài không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, quản lý tài sản riêng đối với đứa trẻ, trừ trường hợp người cha đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận khác. Trong gia đình tái hôn, điều này có hai mặt.
Mặt thứ nhất là tài chính. Nếu người cha đẻ đang cấp dưỡng theo bản án ly hôn, nghĩa vụ đó chấm dứt từ khi giao nhận con nuôi, trừ khi có thoả thuận khác. Người mẹ và cha dượng nên cân nhắc thẳng thắn: gia đình mới có đủ sức lo cho con mà không cần khoản này không, và có muốn thoả thuận để người cha đẻ tiếp tục góp phần, chẳng hạn tiền học, không.
Mặt thứ hai là tình cảm. Người cha đẻ không mất quan hệ huyết thống và đứa trẻ vẫn thừa kế của cha đẻ theo Bộ luật Dân sự 2015. Việc gặp gỡ con không còn là quyền mặc nhiên như sau ly hôn, nhưng có thể được giữ bằng thoả thuận. Nhiều người cha đồng ý dễ hơn khi được bảo đảm điều này; nhiều đứa trẻ cũng nhẹ lòng hơn khi biết mình không phải chọn.
Làm con nuôi hay chỉ là con riêng: khác nhau ở đâu
Quyền thừa kế chắc chắn hơn. Khi đã là con nuôi, đứa trẻ ở hàng thừa kế thứ nhất của cha dượng như con đẻ. Khi chỉ là con riêng, Bộ luật Dân sự 2015 cho con riêng và bố dượng, mẹ kế thừa kế của nhau chỉ khi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con — điều nhiều khi phải chứng minh, dễ tranh chấp với con chung hoặc họ hàng.
Đại diện cho con trong giấy tờ. Cha nuôi là người đại diện theo pháp luật của con như cha đẻ; con riêng thì cha dượng không có tư cách này, mọi việc vẫn phải qua người mẹ hoặc người cha đẻ.
Họ tên của con. Con nuôi có thể được đổi họ theo cha dượng nếu muốn (trẻ từ đủ 9 tuổi phải đồng ý); con riêng thì không có căn cứ này.
Trách nhiệm nuôi dưỡng lâu dài. Cha nuôi có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng như cha đẻ — kể cả nếu sau này hôn nhân với người mẹ tan vỡ.
Nếu cuộc hôn nhân mới cũng đổ vỡ
Đây là câu hỏi ít ai muốn nghĩ tới lúc làm hồ sơ, nhưng cần nghĩ. Ly hôn giữa người mẹ và cha dượng không tự động chấm dứt việc nuôi con nuôi. Người cha nuôi vẫn là cha của đứa trẻ trên pháp lý, và khi ly hôn, việc nuôi con, cấp dưỡng cho con được giải quyết như với con chung. Muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi phải có căn cứ luật định và quyết định của Toà án.
Với người cha dượng, điều này có nghĩa là nhận con nuôi là một cam kết lâu dài, không gắn với cuộc hôn nhân. Với người mẹ, nó có nghĩa là con có thêm một người cha có nghĩa vụ thật sự với con, kể cả khi hai người không còn chung sống.
Nếu gia đình đang có tài sản lớn, con chung, hoặc người cha đẻ bên ngoài có ý định tranh chấp, nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn trước khi nộp hồ sơ để lường trước các tình huống. Phần chấm dứt nuôi con nuôi và thừa kế của con nuôi được bàn kỹ ở hai danh mục riêng trên trang.
Câu hỏi thường gặp
Cha dượng chỉ hơn con riêng của vợ 15 tuổi có nhận làm con nuôi được không?
Được. Luật Nuôi con nuôi 2010 miễn điều kiện chênh lệch từ 20 tuổi trở lên cho cha dượng nhận con riêng của vợ và mẹ kế nhận con riêng của chồng. Các điều kiện về năng lực và đạo đức vẫn phải đáp ứng.
Con riêng của vợ đã 17 tuổi thì có còn kịp nhận làm con nuôi không?
Còn, vì cha dượng, mẹ kế được nhận trẻ từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Nhưng nên nộp hồ sơ sớm, vì khi trẻ đủ 18 tuổi trước lúc giải quyết xong thì không còn thuộc diện được nhận làm con nuôi.
Mẹ kế nhận con riêng của chồng thì có cần ý kiến mẹ đẻ của cháu không?
Có, nếu mẹ đẻ còn sống và xác định được, kể cả khi đã ly hôn với người chồng. Chỉ khi mẹ đẻ đã chết, bị tuyên bố mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì mới chỉ cần ý kiến của người cha.
Sống chung chưa cưới có được nhận con riêng của người yêu làm con nuôi không?
Ưu đãi dành cho cha dượng, mẹ kế dựa trên hôn nhân hợp pháp. Người chưa đăng ký kết hôn thường bị xét như người ngoài gia đình, phải đủ điều kiện chung như chênh lệch 20 tuổi, điều kiện kinh tế, chỗ ở; nên hỏi UBND cấp xã trước.
Nhận con riêng làm con nuôi rồi, cha đẻ của cháu có phải tiếp tục cấp dưỡng không?
Kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha đẻ không còn nghĩa vụ cấp dưỡng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Nếu gia đình muốn cha đẻ tiếp tục góp phần, nên ghi rõ thoả thuận trong quá trình lấy ý kiến.
Sau khi làm con nuôi, con riêng có còn thừa kế của cha đẻ không?
Có. Bộ luật Dân sự 2015 cho con nuôi vừa thừa kế của cha mẹ nuôi, vừa vẫn thừa kế của cha mẹ đẻ theo hàng thừa kế. Chi tiết xem danh mục thừa kế của con nuôi trên trang.